[Rewrite] Self-help????

Ngày 15 tháng 12 năm 2015 mình có viết một bài là Self-help???.

Trước khi đọc bài viết này, để thực sự hiểu hơn, bạn nên đọc qua bài Sự khốn cùng của “tư duy triệu phú” của Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang đăng trên báo Tuổi trẻ Online. Bài viết sẽ là ý kiến của mình về quan điểm của bác ấy.

Cuộc sống khó khăn và rối ren, bạn cần một lời khuyên, nhưng từ đâu? Với nhiều người, giải pháp gần nhất là một cuốn self-help.

Mình chưa đủ trình độ để xác nhận được thông tin này là đúng hay sai, nhưng nếu xét đây là quan điểm của một tiến sĩ tốt nghiệp tại Áo, mình có phần tin tưởng vào nhận định này. (Liệu đây có phải là lỗi ngụy biện khi không xét nhận định mà lại xét người đưa ra nhận định?) Giả sử nó đúng, thì tại sao? Tại sao với nhiều người, khi gặp khó khăn cuộc sống, họ lại tìm đến sách self-help? Theo ý kiến cá nhân của mình, việc này bắt nguồn từ xã hội, là một xã hội thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, họ không dám tâm sự một số vấn đề của mình với người khác, họ không tin tưởng vào trình độ của người khác, họ không tin tưởng vào chính mình (mà cái này cũng bắt nguồn từ môi trường phần nhiều), nên họ tìm đến ý kiến của những người “vĩ mô” hơn, tìm đến “những con ếch trong cái giếng rộng hơn”, tìm đến chốn mà những bí mật khó nói của họ sẽ chẳng bao giờ bị mỉa mai hay chỉ trích, tìm đến nơi truyền cho họ động lực. Nếu vậy, có gì quá sai trái?

Tiếp đến bác ấy định nghĩa và nói về xu thế của sách self-help. Bắt bẻ nhỏ nhặt một chút thì thể loại sách self-help không hề mới mẻ với người Việt Nam mà đã có từ những năm 50-60 của thế kỉ trước (khi mình viết là thế kỉ 21, mình nói phòng trường hợp thế kỉ sau vẫn còn có người “nhỡ” đọc trúng bài này 🙂 ). Theo như mình vừa xem top 25 cuốn sách bán chạy nhất năm 2017 thì có đến 15/25 cuốn là sách self-help (theo như mình hiểu sách self-help là như thế nào). Tiếp đến là tản văn, light novel và sách kinh điển.

Danh sách 25 cuốn sách bán chạy nhất năm 2017 ở trang web mua bán online khá lớn tại Việt Nam là Tiki:

  1. Hôm nay tôi thất tình (Hạ Vũ)
  2. Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu (Rosie Nguyễn)
  3. Nhà giả kim (Paulo Coelho)
  4. Cà phê cùng Tony (Tony Buổi Sáng)
  5. Đắc nhân tâm (Dale Carnegie)
  6. Chuyện con mèo dạy hải âu bay (Luis Sepulveda)
  7. Đừng bao giờ đi ăn một mình (Keith Ferrazzi)
  8. Luyện siêu trí nhớ tiếng Anh dành cho học sinh THPT Quốc gia (Nguyễn Anh Đức)
  9. Mình sinh ra đâu phải để buồn (Hamlet Trương – Iris Cao)
  10. 5 centimet trên giây (Shinkai Makoto)
  11. Đọc vị bất kì ai – Để không bị lừa dối và lợi dụng (David J.Liebermen)
  12. Nhân tố Enzyme – Phương thức sống lành mạnh (Hiromi Shinya)
  13. Ngày xưa có một con bò… (Camilo Cruz)
  14. Your name (Shinkai Makoto)
  15. Chiến thắng con quỷ trong bạn (Napoleon Hill)
  16. Cẩm nang tự học IELTS (Kiên Trần)
  17. 13 nguyên tắc nghĩ giàu làm giàu (Napoleon Hill)
  18. Tôi tài giỏi – Bạn cũng thế (Adam Khoo)
  19. Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (Nguyễn Nhật Ánh)
  20. Thất tình không sao (Nguyễn Ngọc Thạch)
  21. Mẹ, em bé và bố (Gào)
  22. Nếu tôi biết được khi còn 20 (Tina Seelig)
  23. Nuôi con không phải là cuộc chiến (Hachun Lyonnet – Bubu Huong – Mẹ Ong Bông)
  24. Bí quyết học nhanh nhớ lâu (Jonathan Hancock)
  25. Mặc kệ thiên hạ – Sống như người Nhật (Mari Tamagawa)

Đã có sự hãm lại trong nhu cầu đọc sách self-help thời gian gần đây, nhưng dường như đây vẫn đang là nhu cầu rất lớn trong cộng đồng đọc sách. Và liệu có đúng như bác nói: “hai mảng bán chạy nhất là học làm giàu và phát triển bản thân, và thường chúng đi kèm với nhau: thay đổi bản thân để thịnh vượng”. Mình chưa đọc nhiều self-help để  đánh giá, mà có đọc thì (vì một vài lí do nên mình) quên nhiều rồi. Mình không phủ nhận ý kiến của bác. Và những cái thay đổi bản thân mà self-help định hướng cho bạn thường mang tính vị kỉ cá nhân hay để chống chọi với cuộc đời, thích nghi tốt hơn với cuộc đời. Mình không có đánh giá xấu về điều này, bởi con người nói chung, rốt cục, thì sống vì mình là chính, trong cả cái cuộc đời này, đấy là mình nghĩ thế, và không phải ai cũng muốn làm những việc to tát hay cái gì cao siêu mà chỉ muốn mọi thứ được dễ dàng hơn một chút, điều này thì có gì sai cơ chứ?  Họ chẳng cần phải nghĩ quá nhiều về những thứ xung quanh làm gì, và việc tu thân tới “Khai sáng và Minh triết” để làm gì? Ở một góc nhìn khác, con người cần phải biết sống vì người khác và suy nghĩ thoát khỏi cái bó hẹp thì xã hội mới có cơ hội phát triển nhanh chóng.  Nhưng thế nào nếu tôi không muốn? Sách self-help hướng dẫn cho ta một cuộc sống dễ dàng hơn, vậy điều đó có gì là sai, nếu ta mong muốn thế? Nếu tôi chỉ muốn làm một giáo viên ngôn ngữ, việc gì tôi phải đọc các sách về triết học hay vật lí vũ trụ nếu tôi không muốn? Biết chúng có thể dẫn tôi tới gần hơn sự Khai sáng và Minh triết. Mình biết, nếu có hai cái bánh mì thì cái để ăn cái bán để mua hoa hồng; nhưng như thế nào nếu ta chỉ có một cái? Trích một tin nhắn của anh bạn mình:  “Trước khi theo đuổi nghệ thuật, khoa học hay triết học, họ nên có bánh mì để ăn đã. Cái khổ làm con người ta sa đọa em ạ.” Nhưng nếu mình không nhầm, thì về kích cỡ bánh mì mong muốn có sự khác biệt giữa nhiều người. Và mình nghĩ đây sẽ là vấn đề mình cần suy ngẫm thêm một thời gian nữa trước khi gõ bàn phím về cái này.

Còn khái niệm “Tủ sách đổi đời” của ông Đặng Lê Nguyên Vũ thì mình không hiểu cho lắm. Thế nào là “Tủ sách đổi đời”? Là tủ sách mang đến sự thay đổi đặc biệt trong cuộc đời? Thực tình nghĩ mãi thì mình chỉ nghĩ ra series truyện trinh thám liên quan đến thám tử trẻ Phương Mộc của Lôi Mễ, à, và cả bộ 3 cuốn “Thời đi học của những người nổi tiếng”, cộng hưởng với cả sự tác động từ môi trường (phần khá lớn)  là gây ấn tượng với mình và tạo nên nhiều sự thay đổi trong cuộc sống của mình. Series của Lôi Mễ cộng hưởng với tác động của anh N.V.H , người mà mình thích hồi đó, khiến một thời gian mình đọc khá nhiều trinh thám, nhưng cái lớn nhất mà series ấy để lại cho mình đó là sự tò mò về tâm lí con người, cho đến cả bây giờ. Còn bộ ba ấy đã mình nhìn đời một cách nhân văn nhân đạo hơn, vị tha hơn, đã bỏ thói quen đánh nhau với con trai thời đấy. Còn tất cả những cuốn sách khác, mình không phủ nhận sự ảnh hưởng của chúng lên mình, nhưng để thực sự quan sát một quá trình dài đằng đẵng và gây ấn tượng nổi bật thì mình chưa nghĩ ra, cho đến hiện tại.  À, “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” cũng mang lại cho mình một sự “khai sáng” nào đấy về khả năng của con người.  Đấy là cuốn self-help đầu tiên mình đọc. Nếu quay lại xét yếu tố tâm lí, thì rốt cục, chẳng có cuốn nào thực sự thay đổi cuộc đời mình một cách ngoạn mục cả. Không! Chúng vẫn góp phần thay đổi. Nhưng để đến mức “đổi đời” như mong muốn của bác Vũ thì chưa. Làm sao để xác định là cái gì đổi đời khi mà mỗi yếu tố nhỏ trong cuộc sống đều có thể mang lại sự thay đổi không tưởng?

Theo bác Giang, thứ lớn nhất mà sách self-help mang đến cho người đọc đó là hy vọng. Điều này mình phải công nhận, kể cả đối với những cuốn self-help mà mình thích, nếu như định nghĩa sách self-help trong mình là đúng. Hai thứ lớn nhất mà sách self-help mang đến cho người đọc đó là hy vọng và động lực, kể cả đối với những cuốn self-help mà mình thích… Không, không. Hy vọng không sai. Có những thời điểm trong cuộc đời, thứ duy nhất chúng ta cần chỉ là một chút niềm tin và hy vọng nhỏ nhoi trong cuộc sống. Ở trong một khoảng thời gian ngắn, hy vọng có thể là thứ chúng ta cần, nhưng về lâu dài, liệu hy vọng có phải là giải pháp cứu cánh? Khi mà ta chỉ ngồi đó và hy vọng? Khi hy vọng nhiều để rồi thất vọng nhiều? Theo số liệu trong bài báo đưa ra, và theo một bài đăng mình đọc trong một hội nhóm mình tham gia, thì nhiều người, mình không đánh đồng tất cả, chỉ đọc self-help và ngồi tin cộng với hy vọng chứ chưa thực sự hành động. Thử lục tìm lại comment của vài người để đăng nhưng tìm mãi không thấy. Đại ý là hãy comment cuốn sách bạn ấn tượng nhất năm 2017, thì có rất nhiều người bình luận cái tên “Cà phê cùng Tony” hay “Trên đường băng” của tác giả Tony Buổi Sáng, và không ít người còn kèm thêm thành tựu “chưa làm gì” của mình. Muổn đổi đời, thứ đầu tiên chúng ta phải làm là hành động. Đúng là Pascal đã nói “Tất cả phẩm giá con người là nơi tư tưởng”, đúng là Gillet cho rằng “Chỉ một mình bộ óc vừa là cơ quan cảm xúc vừa là cơ quan tư tưởng”, nhưng, cái khoảng cách từ suy nghĩ, tư tưởng cho tới kết quả chính là hành động, và đấy không hề là một khoảng cách bé.  Khi chúng ta chỉ ngồi đấy và hy vọng, chúng ta chẳng làm gì, chúng ta sẽ chẳng có kết quả. Nếu bạn muốn học guitar, bạn nghĩ rằng nghĩ về việc mình sẽ là một tay chơi guitar đỉnh cao rồi đi ngủ tiếp hay mua một cây guitar rồi đăng kí một khóa học sẽ hữu ích hơn? Điều mình muốn nhấn mạnh ở đây là cái mà thứ sách self-help mang đến. Rồi việc không làm gì, rồi mất đi hy vọng, thất vọng, rồi tự trách bản thân, về lâu dài, nếu không đạt được điều mong muốn, sẽ có khả năng ta sẽ mất đi niềm tin nơi bản thân. Một điểm mà mình muốn nói đến là việc đặt mục tiêu trong cuộc đời. Đúng là cuộc đời có mục tiêu thì nó sẽ đỡ đi cảm giác lơ lửng hơn nhiều. Mình cũng đang có một “mục tiêu ảo mộng” cho bản thân, và hình như mình cũng đang chưa làm gì nhiều ngoài việc ngồi đọc một số cuốn sách self-help, tiểu thuyết hay sách kiến thức cơ bản hoặc thường thức. Mình vẫn để bài tập Toán chưa làm ở đấy, hay Văn chưa học thuộc, rồi kiến thức tiếng Anh chưa ôn (haiz, xấu hổ quá). Quay trở lại khi nói về mục tiêu, sách self-help khuyến khích con người hướng đến một mục tiêu không tưởng. Okay, quan điểm của mình vẫn là: mục tiêu đặt ra không phải để mình đạt được, mà là để mình phấn đấu. (Có lẽ mình sẽ cần người nói về quan điểm này của mình). Cá nhân mình suy nghĩ, đường đến thành công là một con đường rải đầy hoa hồng (không phải bông hồng, mà là hoa hồng); và hoa hồng có gai, vẻ đẹp của hoa hồng cũng phần nào nằm ở cái gai của nó; mình muốn nói là con đường tới thành công là một con đường chông gai đẹp đẽ, trong quá trình phấn đấu, ta sẽ phải chiến đấu với “gai nhọn”, nhưng không phải khi nào cái quá trình đó cũng khắc nghiệt, vẫn sẽ có những niềm vui nhỏ bé, phải chăng là khi mình giải được một bài toán mà trước đây mình không giải được, phải chăng là khi mình viết được một bài văn vừa đủ ý vừa thể hiện được màu sắc cá nhân, hay đơn giản hơn, phải chăng là khi mình nắm được hết phần cơ bản các thì của tiếng Anh… Nhưng dù là mục tiêu được đặt ra là để phấn đấu, thì việc thực tế một chút có lẽ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Bây giờ, một đứa như mình, tổng kết cả năm lớp 10 chỉ được 8,0 và cả năm lớp 11 là 8,2, đang theo khối D, mà bỗng nhiên, năm cuối cùng lại muốn theo khối B để thi vào Đại học Y Hà Nội, thì điều ấy có khả dĩ không? Ở một giới hạn nào đó, quả thực, không gì là không thể, nếu ta có phương pháp và kiên trì nỗ lực. Nhưng liệu có phải trường hợp nào cũng thế? Sẽ như thế nào nếu bây giờ mình muốn đoạt giải Nobel Văn học? Nhưng khi xét đến mục tiêu, chúng ta cũng cần xét phần nào đến hoàn cảnh, môi trường xung quanh. Chung quy lại, vẫn cần nên thực tế khi đặt mục tiêu. Một câu hỏi mình đang nghĩ đến, đó là: liệu có phải ngày xưa, Đặng Lê Nguyên Vũ, Bill Gates hay Steve Jobs đặt cho mình mục tiêu phải đạt được những thứ bây giờ? Mình sẽ suy nghĩ về điều này, vì Adam Khoo bảo nhờ ngày xưa đặt mục tiêu và nỗ lực nên ông mới được như bây giờ… Nữa, đó là về việc tự nhắc nhở bản thân hằng ngày về mục tiêu mình đặt ra. Mình không phủ nhận cách làm này. Nhưng ít nhất, nó không hiệu quả với mình, và không ít người khác mà mình biết. Tự nhắc nhở bản thân là tốt, nhưng sự nhắc nhở đó chỉ thực sự có hiệu quả khi mà nó thực sự đi từ tâm khi mình đang tĩnh lặng, còn với nhiều sách self-help, như Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang đề cập và mình đã đọc, đó là dán mục tiêu và con đường của mình lên tường, hay đọc to nó, và cảm nhận của mình về việc này theo ngôn ngữ teen thì… “xàm”. Thực sự thì mình chưa thấy được sự hiệu quả của nó: khi đã lười nhác không muốn làm thì có mục tiêu ngay trước mắt bạn cũng sẽ chẳng quan tâm, tựa như việc mình vừa ngoảnh lại nhìn cái mục tiêu điểm đại học của mình, nhíu mày, rồi lại ngồi gõ tiếp những dòng này. Vả lại, việc dán poster mục tiêu lên tường, hay đọc to, cũng giống như hình xăm (theo kinh nghiệm em trai họ của mình): đến một ngày nào đó ta sẽ chán, ta sẽ chẳng còn để ý đến nó nữa. Thế rồi, biết đâu, ta lại hối hận về những việc đó (!?).

Ở khổ thứ 5 trong bài viết, Đặng Hoàng Giang cũng viết: “Đằng sau những ảo tưởng làm giàu kiểu mì ăn liền kia là những chuyển dịch xã hội và thay đổi trong triết lí sống của người Việt.” Quả thực, những kiểu làm giàu được đề cập trong sách self-help, dưới con mắt cá nhân nhỏ bé của mình, đúng là kiểu mì ăn liền. (Tự nhiên mình đang nghĩ đến mục đích của việc làm giàu.) Làm giàu kiểu mì ăn liền, theo mình hiểu, là làm giàu một cách nhanh chóng và không chắc chắn, và hệ lụy là “sự độc hại” (như mì ăn liền). Còn về dịch chuyển xã hội, mình thấy điều này là khá đương nhiên, vì cuối thế kỉ 20, Việt Nam có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, và chuyển dịch xã hội là một hệ quả không thể tránh. Từ nền kinh tế nông nghiệp chuyển sang nền kinh tế thị trường, người Việt không thể giữ khư khư mô hình xã hội cũ, và triết lí sống cũng sẽ phải “chạy theo” hai sự chuyển dịch này. (Những điều tiếp theo về khoản chuyển dịch thì mình không đánh giá được bây giờ). Còn về ý kiến tiếp theo trong đoạn đó là: “tin vào một triết lí lạc quan ngây thơ là bạn hoàn toàn có thể điều khiển được tiền tài và danh vọng của mình, nếu như bạn nắm được một số “kĩ thuật” nhất định”. Giọng văn châm biếm của Đặng Hoàng Giang ở đây khiến mình phải bật cười, may mà bác không châm biếm ẩn ý sâu cay lắm, không thì chưa chắc mình cảm nhận được. Mình hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bác ở đoạn này. Chúng ta nằm giữa một mớ tác động bòng bong của cuộc sống. Cái tuổi thanh thiếu niên chống đối như mình bây giờ có lẽ không nhiều người nhận ra, hoặc nhận ra nhưng không bận tâm lắm, đó là việc chúng ta giống những người xung quanh chúng ta như thế nào. Mình vẫn biết nhiều trường hợp “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhưng liệu những trường hợp thứ 2 có chiếm phần đa trong xã hội? Ở đây mình chỉ nói chung chung thôi. Cái nền tảng lớn nhất mà chúng ta nhận được thường là từ những người trực tiếp nuôi dạy ta, dù họ yêu thương hay bạo hành ta, dù ta thích hay ghét họ, thì chúng ta cũng không thể phủ nhận được sự ảnh hưởng của họ lên mình. Rồi khi bắt đầu đi học mầm non, tiểu học, chúng ta lại đón nhận sự ảnh hưởng từ bạn bè, thầy cô. Khi đấy chúng ta chưa có khả năng tư duy độc lập cao, đang còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường. Khi ấy, môi trường định hình chúng ta. Và cái nền tảng cốt lõi bao nhiêu năm khó lòng có thể thay thế. Nhưng mình không nói rằng cái môi trường ấy sẽ định hình tất cả về chúng ta, đúng là chúng ta sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi chúng, nhưng có những thứ có thể còn gây ảnh hưởng lớn với chúng ta hơn nữa, đối với mình thì đó là sách. Và việc cập nhật thông tin ngày càng trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, mình không nói tất cả, và việc cập nhật như thế nào cũng là hệ quả của sự ảnh hưởng từ môi trường, nhưng bấy nhiêu thôi, cũng đủ để lí giải cho sự thay đổi trong suy nghĩ con người cũng như xã hội hiện nay đang đi trên một con đường tiệm cận tới sự bình đẳng (nhưng vẫn đang xa trục tọa độ lắm).

Đọc đoạn tiếp theo, mình nghĩ đến cụm từ “chọn lọc xã hội” mà mẹ mình thường nhắc đến, và một bài đăng của trang Beautiful Mind VN là Học thuyết xã hội Darwin nguy hiểm đến mức nào?. Mình sẽ chỉ để link ở đây thôi, nhỡ ai đọc đến và đọc bài đăng của Beautiful Mind sẽ hiểu thêm về quan điểm của mình. Nhưng, mặt khác, nhìn một cách chung chung thì mình vẫn thấy cuộc sống là một cuộc chay đua, ở một số thời điểm, có thể mình cần chạy đua với người khác để có thể giành lấy lợi thế cho mình, ví dụ nếu mình muốn đậu vào trường Luật để đi làm luật sư thì mình phải chạy đua với tất cả thí sinh đăng kí để giành một suất vào trường. Đấy là thực tế tuyển sinh đại học xã hội Việt Nam hiện nay. Liệu ta có thể chối bỏ? Muốn du học, theo cách này hay cách khác, chúng ta vẫn cần chạy đua với mọi người. Đấy là thực tế tuyển sinh đại học thế giới hiện nay. Nếu chúng ta không chạy đua về điểm số, thì chúng ta chạy đua về kĩ năng, về trải nghiệm… Kể cả những môi trường đào tạo ưu tú thì họ cũng dựa trên nhiều tiêu chí để tuyển chọn, chẳng qua là đa dạng hơn thôi. Chẳng phải chúng ta vẫn cứ cần chạy đua hay sao? Đương nhiên, nhìn rộng ra xã hội, tuy có thể “vạn vật đều có chỗ đứng của mình”, xã hội đa dạng, nếu ta thực sự chạy đua và cố gắng hết mình, chắc chắn không đứng chỗ này thì sẽ đứng chỗ khác. Nói như vậy liệu có quá vô cảm? Còn với 5%-dân-số-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, họ không vô dụng (ý mình là mình không vô dụng ấy), họ vẫn làm việc và cống hiến đấy thôi, sự tồn tại của họ cũng đã là một sự cống hiến cho xã hội nhỏ bé xung quanh họ, và nếu họ có thể bước lên chúng thì điều này thực sự có thể truyền cảm hứng cho rất rất nhiều người (à, đương nhiên thì với nhiều người điều này không dễ dàng như của mình), nhưng cứ vậy thôi, biết đâu bất ngờ?

Nhiều phản biện phía dưới bài báo của Đặng Hoàng Giang ở trang Tuổi trẻ Online là ý kiến của Đặng Hoàng Giang còn phiến diện, lí luận, lập luận còn yếu. Nhưng Đặng Hoàng Giang không phủ nhận tất cả sách self-help. Ở đoạn tiếp theo, bác viết “sách làm giàu và kĩ năng sống như những cuốn trên” chứ không nói tất cả hệ thống sách self-help. Và bài viết cũng đề cập đến vấn đề: sự khốn cùng của tư duy triệu phú. Nó chỉ ám chỉ một mảng trong hệ thống sách self-help.

Người người, nhà nhà cho rằng, hệ thống giáo dục hiện nay đang đào tạo ra những con robot, chỉ để phục vụ hệ thống của mình. Vậy thì sách self-help, theo quan điểm cá nhân của tôi, cũng chẳng khác là bao. Xem nào, một mớ kĩ năng, một mớ bí kíp, để bạn làm giàu, học giỏi, theo đuổi ước mơ, để bạn tin tưởng vào bản thân và thế giới… Một số điều được viết trong sách self-help, tôi không có khả năng phủ nhận chúng. (Nó đúng thì phủ nhận thế éo nào?) Tuy nhiên, mục đích của con người chỉ có thế thôi à? Chúng ta được sinh ra để học giỏi, làm giàu, thay đổi thế giới? Ồ, thật thế chứ? Thế tại sao bây giờ lại là thế kỉ 21? Trên quan điểm của một đứa 16 tuổi, nhiều người đi theo Phật giáo, ngồi nghe các ‘thầy’ thuyết giảng về đời sống, tặng tiền, cúng lễ nhà chùa, làm việc tốt…rốt cục, xem đi xét lại, vẫn vì bản thân là chính. Đừng giúp người vì đơn giản là ta muốn thế, hãy giúp với ý nghĩa là ta đang làm việc thiện (!?). Thôi, tôi xin từ chối sự giúp đỡ đó. Theo Phật và thực sự giác ngộ là cả một khoảng cách lớn. Cứ phải học giỏi, có tiền, không ai khôn hơn ta, đến lúc đó ta mới thực sự có giá trị?

Những điều tiếp theo mà tiến sĩ Đặng Hoàng Giang đề cập thì mình không đánh giá được vì mình chưa đọc cuốn “Đắc nhân tâm”, không thể chỉ vì ý kiến của bác mà mình phủ nhận các giá trị mà cuốn đó mang lại được. Biết đâu nó không có ích cho những người như bác, nhưng lại có thể hữu ích với một số người khác (điều này mâu thuẫn với điều bác Giang nói vì bác bảo những cuốn như vầy “gửi họ và cộng đồng vào con đường cụt”, mình sẽ suy nghĩ thêm về điều này). Trong trường hợp sách nói đúng như những gì bác Giang trích: “mỗi người vì chính mình”. Trong bài đăng trước đây của mình, mình từng bảo mình không thích ý kiến này.

Theo thời gian trôi và con người thay đổi, sẽ có những ý kiến mà mình hiện tại sẽ không còn đồng ý với mình của quá khứ nữa. Phần trích dẫn trên, mình đã quá đánh đồng các nhóm sách self-help. Còn về phần đa mình vẫn giữ quan điểm. Bác Giang viết: “Trong thế giới quan của Carnegie, con người là một động vật ích kỉ và nông cạn.” Còn trong thế giới quan chủ quan của mình, tuy tất cả mọi người đều đáng được tôn trọng, nhưng nhìn chung mình vẫn còn có quan điểm như thế, và hiện thì nó đang phai mờ dần. Nếu như mình bảo rằng, chọn lọc tự nhiên bắt buộc chúng ta phải tận dụng mọi điểm yếu của đối phương, thì chọn lọc xã hội cũng cần điều tương tự thì chẳng khác nào mình tự mâu thuẫn với ý kiến của mình phía trên khi phủ nhận thuyết tiến hóa xã hội Darwin. Nhưng cuộc sống hiện đại ngày nay, ta vẫn thường nghe câu: mình không sống vì mình thì ai vì mình. Mình không phủ nhận câu này, bởi cuộc đời là của ta thì ta sống, chỉ ta mới hiểu rõ mình ở đâu và giúp đỡ được bản thân (bên cạnh sự hỗ trợ của người khác, con người không thể sống một mình). Nhưng có những cái, nếu mình không vì mình thì làm sao có thể vì người? Nếu cái thân mình chưa lo nổi thì lo cho ai? Nên cái “vị cá nhân” ở đây có lẽ không hoàn toàn sai trái. Và có những nhu cầu cơ bản của bản thân, khi mà ta là một loài sinh vật sống bầy đàn, không ai muốn bị ngó lơ cả, không muốn bị ghét bỏ, thì liệu việc “được nghe tới tên mình, muốn được tỏ ra quan trọng, và thèm khát sự khen ngợi” phải chăng là điều vô cùng dĩ nhiên? Liệu bác có viết bài báo này chỉ để nêu lên quan điểm cá nhân rồi một ngày nào đó bị xóa vì làm “chật đất” dành cho những bài báo hút khách hơn? Bác cũng không viết bài báo này để rồi bị cư dân mạng “ném đá”, đúng không? Và việc “học được cách móc mồi vào lưỡi câu phù hợp với từng loại cá” phải chăng chính là triết lí “biết người biết ta trăm trận trăm thắng” của người xưa đúc kết? Liệu đây là lợi dụng lẫn nhau, là dùng cần câu cá hay chỉ đơn giản là cho cá những loài thức ăn phù hợp để chúng phát triển?

Còn với đoạn tiếp theo, bác Giang đưa ra một dẫn chứng trong một cuốn sách là việc một đại tư bản tự hào vì ông có thể gọi tên nhiều công nhân của mình bằng tên riêng cho “những con người giả tạo, cơ hội và thao túng”. Liệu có đúng thế? Phải chăng đó chỉ đơn giản là ví dụ cho sự quan tâm sâu sắc đến tất cả mọi người? Rõ ràng hầu như mọi người, bất cứ ai, đều muốn mình được quan tâm cơ mà? Hay là tại mình nghĩ quá đơn giản? Và bác cũng nêu ra một “ẩn  ý xã hội sâu xa hơn” phía đằng sau đó. Liệu tác giả cuốn sách đấy có thực sự có ẩn ý vậy, có một chút gì đấy trong tiềm thức nghĩ vậy, hay chỉ đơn giản là bác Giang có định kiến về những cuốn sách này rồi quy chụp thế? Mình đọc lại những dòng bác Giang viết, và chợt nghĩ tới cụm từ “thâu tóm lẫn nhau”. Nếu đúng như lời bác Giang nói, thì việc thao túng, được ủng hộ bởi nhiều cuốn sách self-help, quả thực là sai trái, trong quan điểm của mình.

Tiếp tới Đặng Hoàng Giang có bàn về giá trị sống của người Việt xưa và nay. Liệu mong muốn tạo một bộ mặt khả ái, nếu đúng như bác nói, của người Việt hiện nay là sai? Mong muốn này rõ ràng được tạo nên bởi tâm lí rất bình thường của con người. Những ấn tượng ban đầu rõ ràng ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của một mối quan hệ. Nếu giờ ta tạo một ấn tượng xấu cho người đối diện, khả năng chúng ta sẽ xây dựng được một mối quan hệ lâu dài với họ là bao nhiêu? Nhưng, nói đi cũng phải nói lại, nếu ta tạo ấn tượng tốt với một người mà không có tâm hồn thực sự hoặc khả năng thực chất, thì mối quan hệ chắc chắn cũng không thể dài lâu. Quay lại với cụm từ “ấn tượng”, nó sẽ là một giai đoạn khi tạo dựng mối quan hệ, không thể đốt cháy giai đoạn được. Chẳng ai tự dưng gặp một người mà lại đi tâm sự hết bí mật của mình với người đó cả.

Ở đây “tư duy tích cực” không liên quan gì tới một thái độ sống lạc quan. Nó là một kiểu niềm tin, có thể gọi là mù quáng, là người ta có thể dùng ý nghĩ để điều khiển những gì xảy ra với bản thân. Bạn muốn giàu? Bạn phải thật sự, luôn luôn và sắt đá tin mình sẽ giàu.

Còn về việc “giám sát và quản lí bản thân” mà Đặng Hoàng Giang đề cập ở phần tiếp, dựa trên quan điểm cá nhân của mình, là không sai. Việc học cách lãnh đạo bản thân từ những năm đầu đời vô cùng hữu ích trong cuộc sống hiện đại sau này. Với nền kinh tế thị trường hiện nay, gần như tất cả mọi thứ bắt đầu được đánh giá dựa trên sản phẩm, mình không thích điều này, nhưng theo quy luật của xã hội để tồn tại, cũng chẳng phải là nhu cầu gì đáng phê phán. Việc mềm dẻo quản lí chính mình và người khác, dựa trên quan điểm cá nhân của mình, là hữu ích. Vẫn sẽ có những xã hội có thể tồn tại mà không cần đến luật pháp, nhưng phần đấy chiếm bao nhiêu? Việc quản lí đúng cách, mình nghĩ, có thể mang lại nhiều giá trị hơn cho cuộc sống, và có thể ứng dụng mạnh mẽ trong việc hỗ trợ đi tìm ý nghĩa sống, chứ không chỉ đơn thuần là trở nên giàu có. Việc Mozart hay Beethoven hoặc Leonardo da Vinci tự ép buộc bản thân mình rèn luyện đã được chứng minh rõ ràng qua những gì mà các vĩ nhân để lại. Vậy thì chúng ta, tại sao không?

Nếu bạn muốn giàu, nếu bạn muốn giỏi, liệu có sai không khi bạn muốn tin tưởng “mù quáng” vào con đường mình đi? Nếu mình cứ tin, cứ làm, vấp ngã, rồi lại đứng dậy làm tiếp, nếu mình mù quáng như thế, liệu có sai? Vậy Edison với cái bóng đèn thì sao? Đương nhiên mình không cổ xúy cho mục đích làm giàu. Nhưng trong một số trường hợp, cái mù quáng ấy liệu có thể có ích? Phần phía sau thì mình đã có đề cập ý kiến cá nhân ở phía trên.

Đằng sau “tư duy tích cực” này kia là quan điểm nguy hiểm rằng bản thân mỗi người, giàu có hay bần hàn, hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình, và đó là lý do hoàn hảo nhất để người giàu tự tán dương mình và phủi tay chối bỏ trách nhiệm xã hội. Gần đây người ta tâm đắc với câu “35 tuổi mà còn nghèo, đấy là tại bạn”. Thông điệp ở đây là gì? Nghèo đói không thuộc về trách nhiệm của quyền lực – họ vô can. Người nghèo nghèo vì họ không có “tư duy triệu phú”.

Đây có thể nói là đoạn mình tâm đắc nhất trong bài báo. Kẻ giàu tự khen mình giỏi nên giàu, kẻ nghèo ngậm đắng nuốt cay: tôi ngu mới nghèo. Trong bài đăng trước đây, mình cũng đã có nêu quan điểm về cái này:

Còn khoản tự chịu trách nhiệm về những thứ đã xảy ra trong cuộc đời, tôi cho rằng, cái này là một gánh nặng sống vô nghĩa. Chúng ta nằm giữa một mớ tác động bòng bong của cuộc sống. Nhìn lại bố mẹ hay những người ta yêu mến thuở ấu thơ rồi tự soi lại mình, cách nhìn nhận của họ và của ta có rất nhiều nét tương đồng. Đấy là một trong những ảnh hưởng ban đầu trong cuộc sống của ta, và cái đó chẳng bao giờ ta có thể chối bỏ hoàn toàn được cả. Dù có đọc 1000 cuốn self-help. Trong một cuốn truyện ngôn tình tôi đã đọc, tác giả có một câu với ý kiến cho rằng: khi còn trẻ, nếu ta mắc sai lầm thì ta sẽ chỉ phải chịu một nửa trách nhiệm hành động; còn khi ta lớn rồi, ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho tất cả mọi thứ quanh ta. Dẹp dẹp. Người lớn cũng trải qua và bị ảnh hưởng do tuổi trẻ. Dùng dao rạch trên da, dù sẹo có lành thì cũng chẳng hết hoàn toàn được, không bao giờ, nếu không thì chúng ta đã chẳng bao giờ học thuộc nổi bài cũ để giáo viên kiểm tra rồi 🙂

Điều này cũng được nói rõ hơn trong đoạn tới mà bác Giang viết.

Quan điểm này bỏ ra ngoài những bất bình đẳng trong xuất thân, trong tiếp cận giáo dục và y tế. Nó không đặt câu hỏi về những bất công trong xã hội, không bàn tới công lý lẫn thể chế, nó không có khái niệm những nhóm người dễ tổn thương. Nó bỏ qua đúc kết dân gian “con sãi ở chùa lại quét lá đa”. Trong một loạt các bức tranh lan truyền trên mạng, người giàu (bụng phệ, đội mũ phớt đen như những ông trùm tư bản của thế kỉ trước) hiên ngang lái con tàu số phận trên biển, còn người nghèo (không cạo râu, quần vá, mũ nhàu nát) rúm ró một góc vì không chịu “quảng bá bản thân” và không “giao lưu với người thành công”.

Tệ hơn, tư duy này làm những người nghèo bên lề xã hội cuối cùng quay ra tự trách cứ bản thân, thay vì phê phán các tương quan và chính sách xã hội đẩy họ vào trạng thái này. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “tư duy tích cực” được dùng như một công cụ kiểm soát xã hội. Barbara Ehrenreich dẫn ra rằng khi các tập đoàn Mỹ sa thải hàng loạt nhân viên vào thập niên 1980 cũng là lúc họ thuê nhiều nhất các diễn giả về “tư duy tích cực” tới để xoa dịu những người bị đuổi việc và để những nhân viên chưa bị đuổi tiếp tục lao vào cày cuốc.

Và cuối cùng, “tư duy triệu phú” kiểu “tự kỷ ám thị” đó cổ xúy sự dịch chuyển của các giá trị đạo đức. Nếu như trước kia người ta tôn vinh các cá nhân theo đuổi một cái nghiệp, cống hiến, say mê, thì bây giờ sự say mê duy nhất được ngưỡng mộ là say mê làm giàu. Và sự giàu có mới nổi cần một biện minh về đạo đức để được chấp nhận và tôn trọng.

Trên nền tảng đạo đức mới này, giàu có nghĩa là thành công, với Napoleon Hill thì nó còn “không cần lời xin lỗi”. Làm giàu không những đã trở thành đích sống, mà còn là một đức hạnh, “làm giàu là vinh quang”. Hệ quả là gì? Trong khi tôn vinh người giàu, người ta rất dễ đi đến kết luận thứ hai rằng người nghèo làm xấu hổ đất nước, là gánh nặng của cộng đồng. Napoleon Hill viết: “Chúa đứng bên những người quyết tâm làm giàu”. Nửa câu sau không được nói ra là người nghèo và hoang mang thì không xứng đáng có Chúa ở bên cạnh.

Điều mình đồng ý với bác Đặng Hoàng Giang, rằng sách self-help vẽ cho ta về một thế giới quá ngập sắc hồng, điều mà không thể nào có, nhất là trong cuộc sống hiện đại. Đó là một cách nhìn vô cùng phiến diện, giống như nhân vật nhiếp ảnh gia Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Anh ấy chỉ nhìn được cái vẻ đẹp trước mắt của con thuyền trong buổi sáng sương mờ và không hề quan tâm sau vẻ đẹp ấy là gì. Vẻ đẹp đó phục vụ cho mục đích trước mắt của anh là đủ. Anh không bận tâm về những gì lẩn khuất phía sau cái cảnh tượng đó để rồi khi nghe người đàn bà hàng chài nói thì anh ngậm ngùi nhận lấy bài học trong lao động nghệ thuật và góc nhìn đời sống. Mình không có ý lấy một dẫn chứng văn học cho việc này, cái mình muốn nói là cũng có những người nghĩ như mình. Sẽ như thế nào nếu chúng ta tổ chức một sự kiện mà không lường trước các nguy cơ và rủi ro mà chỉ nghĩ đến những mặt phải mà chương trình mang lại? “Tư duy tích cực” cũng vậy. Đối với mình, rất nhiều cuốn self-help chỉ như một dạng động lực. Và sách self-help, cũng như nhiều cuốn sách khác, hoặc bài báo này của Đặng Hoàng Giang, hay thậm chí bài blog của mình mà các bạn đang đọc, rốt cục, chỉ là ý kiến của một, hay một số cá nhân, khi đọc cần suy xét kĩ, trước hết, khi đọc, phải chọn lọc kĩ những thứ mình sẽ đọc, và phải lọc ý, nạp những cái cần thiết, những cái chưa đến lúc thì để sau, rồi cũng phải biết phân tích và phản biện những gì được biết, một mặt là để biết  đúng sai, mặt kia là để hiểu và ghi nhớ rõ hơn vấn đề.

Thêm vào đó, sách self-help không phải vấn nạn. Nó chỉ là một phần của sự phát triển. Những người biết rồi, có thể nói đôi câu, nhưng cũng đừng nên đốt cháy giai đoạn mà nên để người đọc tự nhận thấy. Mình đã từng đọc qua câu gì với đại ý: một sự hiểu biết nào mà không phải tự mình tìm ra thì không phải là hiểu biết. Cái mà chúng ta có thể làm là rèn luyện phương pháp đọc và dung nạp thông tin. Theo mình, không có cuốn sách nào là một sự lãng phí cả. Những người cần, thì đơn giản cứ đọc thôi.

Bài viết của Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang chỉ là ý kiến của bác về một mảng sách self-help, chứ bác không đánh đồng tất cả. Và thể loại sách self-help không chỉ có thế.  Vẫn sẽ có những cuốn sách self-help mà mình muốn giới thiệu cho mọi người đọc và tham khảo quan điểm nhìn của người viết.

Trước sự mất niềm tin vào sách self-help của mình, mình đã tìm thấy ánh sáng giữa đó. Là “Tôi tự học” của Thu Giang – Nguyễn Duy Cần.

Advertisements

Do you want to give me some words?

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.